bệnh gout – Khái niệm, nguyên nhân và chẩn đoán

0

Gout là một bệnh phổ biến hiện nay, nếu như trước đây chúng ta chỉ gặp những trường hợp bị gout ở độ tuổi ngoài 40 thì ngày nay bệnh này đang ngày càng trẻ hóa do chế độ ăn uống và sinh hoạt không khoa học. Blog thuocthat.com sẽ cung cấp cho các bạn những thông tin cơ bản cần thiết về căn bệnh này.

Khái niệm về bệnh gout

Bệnh gout (gut) là bệnh viêm khớp do vi tinh thể, đặc trưng bởi những đợt viêm khớp cấp tái phát, có lắng đọng tinh thể muối urat natri trong các mô, gây ra do tăng acid uric trong máu. Đây là bệnh do rối loạn chuyển hóa nhân purin, thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa.

Khớp chân bị biến dạng do bệnh gout

Nguyên nhân gây bệnh gout

Chia làm hai loại là: gout nguyên phát và gout thứ phát.

  • Nguyên phát: Chưa rõ nguyên nhân, chế độ ăn thực phẩm chứa nhiều purin như: Gan, thận, tôm, cua, lòng đỏ trứng, nấm… Được xem như là làm nặng thêm bệnh. Gặp 95% ở nam giới, độ tuổi thường gặp là 30-60 tuổi.
  • Thứ phát: Một số hiếm do các rối loạn về gen (nguyên nhân di truyền). Ngoài ra có thể do tăng sản xuất acid uric hoặc giảm đào thải acid uric hoặc cả hai.

Tinh thể urat hình thành trong khớp do tích lũy nhiều acid uric gây ra bệnh gout

Xem thêm >> Bệnh Crohn (Viêm Ruột Từng Vùng) Là Gì? Cách Điều Trị Viêm Ruột Từng Phần

Chẩn đoán:

Lâm sàng

Cơn gout cấp tính đầu tiên thường xuất hiện ở lứa tuổi 35-55, ít khi trước 25 hoặc sau 65 tuổi. Ở nữ ít xảy ra trước tuổi mãn kinh, ở nam mắc ở tuổi càng trẻ thì bệnh càng nặng

Điều kiện thuận lợi để bệnh khởi phát: Nhiều khi không rõ nhưng có thể xảy ra sau bữa ăn có nhiều thịt (nhất là loại thịt có nhiều purin), rượu, sau xúc cảm mạnh, sau chấn thương kể cả vi chấn thương (đi giày chật), sau nhiễm khuẩn, dùng các loại thuốc lợi tiểu như thiazid…

Cơn gout cấp:

  • Xuất hiện đột ngột ban đêm, bệnh nhân thức dậy vì đau ở khớp, thường là khớp bàn chân, ngón chân cái (60-70%): Khớp sưng to, đỏ, phù nề, căng bóng, nóng, đau dữ dội và ngày càng tăng, va chạm nhẹ cũng rất đau. Sau đó thay đổi thứ tự: bàn chân, cổ chân, gối, bàn tay, cổ tay, khuỷu, hiếm thấy ở khớp háng, vai, cột sống. Lúc đầu chỉ viêm một khớp sau đó có thể viêm nhiều khớp
  • Ngoài khớp ra, túi thanh dịch, gân, bao khớp cũng có thể bị thương tổn.
  • Các dấu hiệu viêm có thể kéo dài nhiều ngày, thường từ 5-7 ngày sau đó giảm dần: đỡ đau, đỡ sưng, bớt đỏ. Hết cơn đau, khớp trở lại hoàn toàn bình thường.
  • Trong cơn gout cấp có thể có sốt vừa hoặc nhẹ, tăng tốc độ lắng hồng cầu, dịch khớp (khớp gối) thấy bạch cầu 5000/mm3 , đa số là loại đa nhân, dưới kính hiển vi thấy nhiều tinh thể urat.
  • Cơn gout cấp dễ tái phát, khoảng cách có thể gần nhưng cũng có thể rất  xa, có khi trên 10 năm.
  • Bên cạnh thể điển hình, cũng có thể tối cấp với khớp viêm sưng tấy dữ dội, bệnh nhân đau nhiều nhưng cũng có thể gặp thể nhẹ, đau ít, dễ bị bỏ qua.

Lắng đọng urat:

Lắng đọng urat làm hình thành các tophi dưới da và gây nên bệnh khớp mạn tính do urat.

  • Tophi: Thường biểu hiện chậm, hàng chục năm sau cơn gout cấp đầu tiên nhưng cũng có khi sớm hơn, khi đã xuất hiện thì dễ tăng số lượng và khối lượng và có thể loét. Tophi thường thấy trên sụn vành tai rồi đến khuỷu tay, ngón chân cái, gót chân, mu bàn chân, gân achille.
  • Bệnh khớp mạn tính do urat: xuất hiện chậm, khớp bị cứng, đau khi  vận động và làm hạn chế vận động, khớp có thể sưng to vừa phải, không đối xứng, cũng có thể có tophi kèm theo

Hình ảnh hạt tophi và các tinh thể của acid uric trong khớp ở bệnh gout

Biểu hiện về thận:

  • Urat lắng đọng rải rác ở tổ chức kẽ thận, bể thận, niệu quản.
  • Sỏi thận: chiếm 10-20% các trường hợp gout, điều kiện thuận lợi là PH nước tiểu quá toan (acid), nồng độ acid uric cao. Sỏi urat thường nhỏ và không cản quang.
  • Tổn thương thận: Lúc đầu chỉ có protein niệu, có thể có kèm theo hồng cầu, bạch cầu vi thể, dần dần diễn tiến đến suy thận. Suy thận thường gặp ở thể có tophi, tiến triển chậm và là nguyên nhân gây tử vong

Cận lâm sàng

  • Acid uric máu tăng > 420 µmol/l,  nhưng khoảng 40% bệnh nhân có cơn gout cấp nhưng acid uric máu bình thường.
  • Định lượng acid uric niệu 24 giờ: Để xác định tăng bài tiết (>600mg/24h) hay giảm thải tương đối (<600mg/24h). Nếu acid niệu tăng dễ gây sỏi thận và không được chỉ định nhóm thuốc tăng đào thải acid uric.
  • Xét nghiệm dịch khớp: Quan trọng nhất là tìm thấy tinh thể urat trong dịch khớp. Dịch khớp viêm giàu tế bào (>2000 tb/mm), chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính.
  •  Các xét nghiệm khác: Tốc độ máu lắng tăng, CRP bình thường hoặc tăng
  • X quang khớp: Giai đoạn đầu bình thường, nếu muộn có thể thấy các khuyết xương hình hốc ở đầu xương, hẹp khe khớp, gai xương…

Trên đây là bài viết chia sẻ thông tin về bệnh gout, chắc hẳn nó sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về nguyên nhân, biểu hiện, cách phòng tránh và điều trị bệnh gout. Hãy truy cập website thuocthat.comBlog.thuocthat.com để cập nhật thông tin về các loại thuốc cũng như xem thêm nhiều bài viết về bệnh học mới

 

 

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.